Ràng buộc đối với người quản lý · Sự nghiệp và của cải
Sự nghiệp và của cải · Ràng buộc đối với người quản lý
6 suy ngẫm
《Đưa chính mình vào tiêu chuẩn công việc》 Đặt yêu cầu cho đội rồi làm sao biết tiêu chuẩn nghĩa gì trong thực tế?
Ở vị trí quản lý, nêu yêu cầu tương đối dễ. Tư liệu đủ, logic rõ, quá trình kịp, kết quả đúng, nghe riêng đều lý. Làm thật nối các yêu cầu sao, cần bao giờ, bao phán đoán chưa chắc thấy từ một câu.
Tôi nghĩ quản lý cũng đáng tự đi qua việc then chốt. Nhận nhiệm vụ cụ thể, theo chuẩn mình đề mà làm, rõ đầu vào, xét, phối mỗi bước cần. Khó trong tay làm yêu cầu chung thành cụ thể, dễ thấy đâu bù cách, đâu xếp lại thứ tự.
Tự làm rồi chuẩn chưa chắc hạ. Chi tiết nào thật đáng giữ, yêu cầu nào cần công cụ, hỗ trợ tốt hơn, lao động lặp nào chỉnh được. Quan trọng giải được lý do, biết đòi người làm gì, xong cần điều kiện nào. Phản hồi vậy có cơ hội giúp cải thiện hơn.
Không nghĩa quản lý nhận hết việc đội. Chọn khâu then chốt hiểu, dùng hiểu vào yêu cầu, hỗ trợ, xét là đủ. Chức cho quyền đặt chuẩn, việc thật giúp rõ sức nặng chuẩn. Nối được hai điều, yêu cầu dễ thành căn cứ hữu dụng hơn.
《Bối cảnh không thay thực hiện chức trách》 Khi e ngại thân phận ai, làm sao vẫn đặt việc vào sự thật xét được?
Biết ai có bối cảnh đặc biệt, giao tiếp có thể thêm e ngại. Lời khó hỏi, yêu cầu không dám rõ, thậm chí họ không đáp cũng tìm lý do hộ. Lâu vậy nhiệm vụ xong chưa lại mờ, việc cần xét bị thân phận chắn.
Tôi nghĩ vào vị trí phải gánh chức trách vị trí. Thân phận nói người từ đâu, không thay tư liệu, quyết định, bàn giao. Cần xác nhận vẫn xác nhận, cần kết quả vẫn rõ. Tôn trọng người cũng thể hiện ở nghiêm túc với việc họ gánh.
Đánh giá cố về sự thật cụ thể. Hẹn làm gì, thật đến đâu, điều kiện nào thiếu, vấn đề nào cần họ đáp. Đừng vì bối cảnh mặc định mạnh, cũng đừng vì vậy định thiếu trách nhiệm. Ấn tượng do thân phận không thay hiểu hành động, kết quả.
Người vị trí đặc biệt cũng cần để việc mình được hỏi, kiểm. Quyền cụ thể hay giới hạn bảo mật cũng rõ, không hiểu hỏi là đòi toàn tư liệu. Hợp tác cần giữ chức trách thực hiện được, vấn đề giải được, không để mọi người nể thân phận mà đoán làm.
《Nguyên tắc phải ràng buộc cả người đề ra》 Khi nguyên tắc bất tiện cho chính tôi, tôi còn định để nó ràng buộc ai?
Nguyên tắc có trọng lượng không, phải xem có ràng buộc được người có quyền tự cho mình ngoại lệ nhất không.
Đòi người theo quy trình, mình luôn có tình huống đặc biệt; đòi người báo kịp, mình chỉ muốn được hiểu nỗi khó. Sắp xếp ấy dù mang tên nguyên tắc, tác dụng có thể chỉ khiến người khác nghe hơn. Người đề nguyên tắc mãi ngoài quy tắc thì người dưới chỉ đoán tâm trạng họ.
Tôi đưa yêu cầu cũng nên nói mình chịu nó thế nào. Ai kiểm quyết định tôi, người khác nêu phản đối sao, tôi sai sẽ gánh thế nào. Vai khác chịu trách nhiệm khác được; thật cần ngoại lệ thì rõ lý do, phạm vi, thời hạn để kiểm được.
Đưa mình vào quy tắc bớt tùy tiện, thêm phiền giải thích. Sẵn trả giá ấy nguyên tắc mới có cơ hội thành chỗ dựa chung. Không thì nói chính đến đâu tôi cũng chỉ mở tư cách đòi người khác.
《Tin xấu không vào được, quyết định sẽ rỗng》 Tôi chỉ nhận tin tốt vì việc thuận hay vì có người không dám đưa vấn đề?
Một tổ chức có thể không thiếu sức phán đoán, mà tin xấu không đến người có quyền xét.
Vừa báo vấn đề đã hỏi ai thiếu tận tâm; tiến độ đổi đã coi người nêu khó là không phối hợp. Vài lần, điều mọi người học có thể không phải giải quyết mà là nói vấn đề nhẹ, muộn hơn, tốt nhất đến không che nổi mới nói.
Muốn người chịu trách nhiệm, tôi phải cho phản hồi thật chỗ đặt. Hỏi sự thật trước, ảnh hưởng và lựa chọn sau, cuối kiểm trách nhiệm. Cố giấu cần xử, báo kịp cũng cần nhận. Coi người phát hiện là người gây vấn đề là dạy người biết lần sau im.
Tin xấu vốn khó nghe. Nếu tôi chỉ muốn báo cáo dễ chịu thì đừng lạ vì sao phán đoán càng muộn. Muốn biết hoàn cảnh thật là giá phải trả để quyết.
《Trước quy trách nhiệm, xem họ quyết được gì》 Trước bắt ai phụ trách, tôi đã cho quyền thật ảnh hưởng kết quả chưa?
Giao hậu quả cho một người không đồng nghĩa giao việc cho họ.
Không chỉnh giờ, không gọi nguồn lực, không đổi yêu cầu, thấy rủi ro không kênh dừng, cuối chỉ hỏi sao chưa tốt. Trách nhiệm có vẻ rõ, thực có thể chỉ gom kết quả người khác bất tiện gánh dưới một tên.
Trước quy trách nhiệm, tôi nên rõ: họ quyết bước nào, thiếu hỗ trợ gì, khi nào phải báo lên, sau báo ai quyết. Người thực hiện đương nhiên không vì quyền hạn chế mà giấu vấn đề; người có quyền cũng không thể sau kết quả giấu chọn mình trong thực thi người khác.
Trách nhiệm chia tầng được, hậu quả cùng gánh được. Mỗi tầng phải ứng phần thật ảnh hưởng được. Chỉ cho trách nhiệm không chỗ xét thường được đối phó; quyền càng giấu sâu, quy trách càng dễ nhầm người.
《Để người chỉ dựa mình chưa phải đào tạo》 Theo tôi làm rồi, họ tự xét hơn hay sợ rời phán đoán tôi hơn?
Tôi rời mà việc tiếp được đôi khi chứng đào tạo có xảy hơn việc đẹp khi tôi ở.
Có người quen khẩu vị tôi, theo đáp án nhưng không biết đáp từ đâu. Đổi vấn đề đợi tôi, gặp bất đồng chỉ đoán tôi chọn bên nào. Phối có vẻ thuận mà chưa giao năng lực xét. Nếu tôi coi được cần là đào tạo thành, dễ không nỡ đổi phụ thuộc.
Đào tạo cần giao cả căn cứ, quyền, phản hồi. Làm mẫu trước, để họ giải lý do; cho quyết trong phạm vi chịu được, xong cùng kiểm. Việc then chốt vẫn duyệt, thiếu kinh nghiệm vẫn đồng hành, nhưng hỗ trợ nên dần tăng năng lực, không chỉ quen tôi hơn.
Sau họ có thể xét hơn tôi, có thể chọn đường khác. Nhận được không thử tôi đang đào tạo người hay người liên tục xác nhận tôi quan trọng.