Chuyển đến nội dung chính
MEDITATION / Nhận thức và học tập / Châm ngôn và đọc sách

Châm ngôn và đọc sách · Nhận thức và học tập

Nhận thức và học tập · Châm ngôn và đọc sách

Nhận thức và học tập · 3 suy ngẫm

3 suy ngẫm

《Bảy mươi lời về tu thân, cầu tri và làm nên việc》 Các châm ngôn về tu thân, cầu tri và làm nên việc nhắc gì cho đời hôm nay?

1. Trẻ khỏe không gắng, già chỉ uổng buồn. — Cổ từ Hán Nhạc phủ “Trường ca hành”

Ý chính: Tuổi trẻ không cố học, lớn lên chỉ buồn vô ích. Câu nhắc thời gian như tên, năm tháng như dòng, phải quý tuổi xuân, phấn đấu làm nên việc.

2. Nghiệp tinh nhờ cần, hoang phế vì chơi. — Hàn Dũ “Tiến học giải”

Ý chính: Việc học tiến nhờ cần, bỏ vì vui chơi. Câu cảnh báo làm gì muốn thành đều phải chăm nỗ lực, đừng phí giờ.

3. Một tấc thời gian một tấc vàng, tấc vàng khó mua tấc thời gian. — “Tăng quảng hiền văn”

Ý chính: Một tấc thời gian quý như một tấc vàng, nhưng vàng ấy không mua lại thời gian. Thường dùng nhấn thời gian dễ trôi, nên quý như vàng.

4. Trời vận hành mạnh, quân tử tự cường không nghỉ. — “Chu Dịch · Càn · Tượng”

Ý chính: Thiên thể vận hành mạnh không ngừng, người tài đức nên tự cường như thế. Lời khích lệ phấn đấu, tiến thủ. Muốn sự nghiệp thành phải không sợ khó, luôn tự khích lệ, mãi tự cường tiến lên.

5. Chí không mạnh, trí không thông. — “Mặc Tử · Tu thân”

Ý chính: Chí không vững thì trí tuệ không phát đủ. Nhấn tầm quan trọng lập chí; chí vững cho động lực vô cùng.

6. Xanh lấy từ chàm mà xanh hơn chàm; băng do nước mà lạnh hơn nước. — “Tuân Tử · Khuyến học”

Ý chính: Thuốc xanh chiết từ cỏ chàm mà màu sâu hơn; băng từ nước đông mà lạnh hơn nước. Nói hậu sinh đáng nể, cố học, tích cực tiến thì hoàn toàn vượt người trước được.

7. Chí nên cao xa. — Gia Cát Lượng “Giới ngoại sinh thư”

Ý chính: Lập chí nên cao lớn xa. Câu khuyến thanh thiếu niên mở mắt, rộng lòng, dựng chí xa.

8. Trượng phu chí bốn biển, vạn dặm như láng giềng. — Tào Thực “Tặng Bạch Mã vương Bưu”

Ý chính: Người hoài bão chí bốn biển, dù cách vạn dặm vẫn thông lòng như láng giềng gần. Đây thơ Tào Thực lúc chia em Tào Bưu; sau thường dùng khích nhau, bày tình cảm phấn chấn.

9. Có chí, việc cuối thành. — “Hậu Hán thư · Cảnh Yểm liệt truyện”

Ý chính: Người chí hướng cuối thành sự nghiệp. Sau dùng nói chỉ cần quyết tâm, bền chí không gì không thành.

10. Muốn tầm mắt nghìn dặm, lên thêm một tầng lầu. — Vương Chi Hoán “Đăng Quán Tước lâu”

Ý chính: Muốn thấy xa hơn phải lên tầng cao hơn. Hai câu mượn cảnh lên cao nhìn xa cổ vũ tinh thần không ngừng leo, tích cực tiến.

11. Ắt lên đỉnh cao nhất, nhìn núi khác nhỏ thôi. — Đỗ Phủ “Vọng nhạc”

Ý chính: Cuối phải lên đỉnh Thái Sơn, khi ấy núi quanh đều thấp nhỏ. Hai câu bày hào tình tráng chí thi nhân, cũng là hình ảnh tấm lòng rộng chí cao.

12. Người phải biết lễ rồi kính, kính rồi tôn nhường. — “Quản Tử · Ngũ phụ”

Ý chính: Biết lễ mới sinh kính, có kính mới tôn trọng, nhường nhịn. Câu nói tầm quan trọng biết lễ và quan hệ với cung kính, tôn nhường. Biết lễ là tiền đề, cung kính là phản ứng trong tâm, tôn nhường chuyển thành hành động.

13. Không quy củ, chẳng thành vuông tròn. — “Mạnh Tử · Ly Lâu thượng”

Ý chính: Không compa, thước vuông thì không vẽ vuông tròn được. Mượn việc thợ cần công cụ để vẽ, ví đời cần theo quy phạm.

14. Kính người già nhà mình, rồi đến người già nhà người;

Thương trẻ nhà mình, rồi đến trẻ nhà người. — “Mạnh Tử · Lương Huệ vương thượng”

Ý chính: Kính trưởng bối mình mở rộng kính trưởng bối người, yêu con mình mở rộng yêu con người. Câu bày nguyện đẹp: không phân thân sơ, đối mọi già trẻ như người thân.

15. Người quý hơn cầm thú vì có lễ. — “Yến Tử Xuân Thu”

Ý chính: Người tôn quý hơn thú chim vì hiểu lễ. Sau thường dùng chỉ tầm quan trọng lễ trong sống; trọng lễ biểu hiện tu dưỡng, đạo đức.

16. Ai nói lòng cỏ nhỏ, báo nổi nắng ba xuân. — Mạnh Giao “Du tử ngâm”

Ý chính: Ai nói tâm cỏ nhỏ đền nổi nắng xuân? Hai câu vừa thể ấm và lớn tình mẹ, vừa bày biết ơn vô hạn của con.

17. Quạ từ còn mớm lại, cừu non còn quỳ chân.

Người không hiếu cha mẹ, chẳng bằng chim với thú. — “Khuyến hiếu ca”

Ý chính: Quạ nhỏ còn biết nhả thức ăn cho cha mẹ, cừu non bú còn quỳ cảm mẹ; người không hiếu song thân còn chẳng bằng cầm thú! Đây bài hát khuyên hiếu. Từ sinh đến lớn chẳng biết bao tâm huyết, nhọc nhằn người nuôi tụ vào! Hiếu kính người thân nuôi mình là việc ai cũng nên làm.

18. Ta mỗi ngày ba xét mình: mưu việc người chưa hết lòng chăng? Giao bạn chưa tín chăng? Điều truyền chưa ôn chăng? — “Luận ngữ · Học nhi”

Ý chính: Mỗi ngày tôi vài lần tự xét: làm cho người hết sức chưa, giao bạn thật chưa, ôn kiến thức thầy dạy chưa? Danh ngôn Tăng Sâm, trò Khổng Tử, cho thấy học hay tu thân đều cần hay tự xét để giữ ưu, sửa khuyết, hoàn thiện mãi.

19. Nghèo không nịnh, giàu không kiêu. — “Luận ngữ · Học nhi”

Ý chính: Nghèo mà không nịnh, giàu quý mà không ngang. Đây thái độ làm người Tử Cống, trò Khổng Tử, ca ngợi. Khổng Tử cho làm vậy tốt rồi; nếu “nghèo mà vui, giàu thích lễ” càng tốt.

20. Giao với bạn, lời có tín. — “Luận ngữ · Học nhi”

Ý chính: Giao bạn nói thật giữ tín. Nhấn có tín mới được người tin cậy, kết bạn thật.

21. Thành là đạo trời; làm cho thành là đạo người. — “Lễ ký · Trung dung”

Ý chính: Thành là thiên đạo, thành tín với người là đạo làm người. Thành chỉ thật, thực. Câu nói trời đất tự nhiên chân thật, người cũng phải như vậy, đừng giả dối tự lừa lừa người.

22. Phú quý không làm mê, nghèo hèn không làm đổi, uy vũ không làm khuất. — “Mạnh Tử · Đằng Văn công hạ”

Ý chính: Giàu quý không loạn chí, nghèo hèn không đổi tiết, vũ lực không khuất nhân cách. Đây hình người khí tiết trong lòng Mạnh Tử. Thuận hay nghịch đều cần tinh thần ngay không a dua, nhân cách độc lập, chịu mọi thử thách.

23. Người phải tự yêu rồi người mới yêu; phải tự kính rồi người mới kính. — Dương Hùng “Pháp ngôn · Quân tử”

Ý chính: Phải tự yêu mới được người yêu, tự tôn mới được người kính. Nhấn tự tôn tự ái tức nghiêm với phẩm cách, hành vi mình để được kính.

24. Nguồn sạch dòng trong, thân ngay bóng thẳng. — Vương Bột “Thượng Lưu hữu tướng thư”

Ý chính: Nguồn sạch thì nước trong, dáng ngay thì bóng thẳng. Cho biết phẩm cách cao, trong sạch không tì thì luôn làm chủ mình, đường hoàng làm người.

25. Từ bùn ra không nhiễm, rửa nước trong không lẳng. — Chu Đôn Di “Ái liên thuyết”

Ý chính: Sen mọc bùn vẫn sạch, rửa nước trong vẫn vẻ tự nhiên không yêu mị. Danh cú ca sen cao khiết. Làm người cũng cần phẩm sen: ở mọi môi trường giữ tình tháo đẹp, không theo sóng.

26. Lời đã ra, xe bốn ngựa khó đuổi. — “Tăng quảng hiền văn”

Ý chính: Nói rồi, dùng xe bốn ngựa đuổi cũng khó lấy lại. Hình ảnh giữ lời: đã hứa với ai, dù khó đến đâu vẫn trách nhiệm thực hiện.

27. Điều mình không muốn, đừng làm cho người. — “Luận ngữ · Nhan Uyên”

Ý chính: Việc mình không thích đừng ép người. Nói thái độ thiện với người, lấy lòng so lòng, giỏi nghĩ từ góc người.

28. Trách mình dày, trách người mỏng. — “Luận ngữ · Vệ Linh công”

Ý chính: Đòi mình nhiều, người ít. Nguyên tắc Khổng Tử về đối mình, người; cho rằng làm vậy giảm oán, thêm hòa.

29. Quân tử lòng rộng thản nhiên, tiểu nhân mãi lo âu. — “Luận ngữ · Thuật nhi”

Ý chính: Quân tử rộng lòng, tiểu nhân luôn lo. Người đức cao vô tư nên sống thản; người phẩm thấp bị tư tâm kéo không thể nhẹ vui.

30. Người có ơn ta không thể quên; ta có ơn người không thể không quên. — “Chiến Quốc sách · Ngụy sách”

Ý chính: Ơn người cho tôi không được quên; ơn tôi cho người phải quên. Nguyên tắc giao tiếp người xưa nước ta tôn: nhận ơn “có ơn tất báo”; cho ơn “không mong đáp”.

31. Yêu người, người luôn yêu; kính người, người luôn kính. — “Mạnh Tử · Ly Lâu hạ”

Ý chính: Người yêu người khác luôn được yêu, người kính luôn được kính. Hai câu chỉ tình cảm tương tác, quan tâm kính người thì được lại.

32. Biển không từ nước nên thành lớn; núi không từ đất đá nên thành cao. — “Quản Tử · Hình thế giải”

Ý chính: Biển không chê dòng nào nên lớn, núi không từ đất đá nào nên cao. Muốn làm đại nghiệp không so việc vụn, cần lòng biển, khí độ núi.

33. Một cành chẳng thành cây, một cây chẳng thành rừng. — Dân ca Nhạc phủ Bắc triều “Tử lưu mã ca”

Ý chính: Một cành không thành cây, một cây không thành rừng. Sau trích chỉ sức cá nhân hữu hạn, muốn nghiệp lớn phải giỏi đoàn kết, phát trí sức tập thể.

34. Nước quá trong không cá, người xét quá không bạn. — “Đại Đới Lễ ký · Tử Trương vấn nhập quan”

Ý chính: Nước quá trong không cá, người quá khắt khe không đồng bạn. Chung sống cần bao dung. Quá khắt khó thấy ưu người, không hợp tác, cuối tự cô lập.

35. Vui niềm vui người, người cũng vui niềm vui mình; lo nỗi lo người, người cũng lo nỗi lo mình. — Bạch Cư Dị “Sách lâm”

Ý chính: Lấy vui người làm vui, người cũng lấy vui bạn làm vui; lo điều người lo, họ cũng lo điều bạn lo. Cho thấy quan tâm người quan trọng cho cả họ và mình. Ai cũng vui cùng, lo cùng thì quan hệ hòa hơn.

36. Đầy chuốc tổn, khiêm nhận lợi. — “Thượng thư · Đại Vũ mô”

Ý chính: Tự mãn gây hại, khiêm cho lợi. Chỉ hại lợi hai thái độ: tự mãn đắc ý đứng yên, khiêm mới luôn tiến, luôn được.

37. Không tự phô nên sáng, không tự cho đúng nên rõ, không tự khoe nên có công, không tự kiêu nên dài. — “Lão Tử”, chương hai mươi hai

Ý chính: Không phô mình nên cao minh, không tự đúng nên nổi rõ, không tự khoe nên lập công, không kiêu mãn nên lâu. Khuyên đừng tự đúng, tự cao mới thật thành.

38. Đá núi khác có thể mài ngọc. — “Thi kinh · Tiểu nhã · Hạc minh”

Ý chính: Đá núi khác dùng mài đồ ngọc. Thường chỉ rộng lòng, giỏi lấy sở trường người là cách hay nâng và phát triển mình.

39. Thước có chỗ ngắn, tấc có chỗ dài. — Khuất Nguyên “Bốc cư”

Ý chính: Thước dài hơn tấc vẫn có chỗ ngắn; tấc ngắn hơn thước vẫn có chỗ dài. Ai cũng có sở trường, sở đoản, cần giỏi lấy dài người bù ngắn mình.

40. Biết là biết, không biết là không biết, ấy là trí. — “Luận ngữ · Vi chính”

Ý chính: Biết nhận biết, không biết nhận không biết mới sáng suốt. Nhấn cầu tri, cầu học đừng giả dối, không hiểu giả hiểu.

41. Ba người đi, ắt có thầy ta; chọn điều tốt mà theo, điều chưa tốt mà sửa. — “Luận ngữ · Thuật nhi”

Ý chính: Ba người đi cùng tất có thầy đáng học. Chọn ưu họ học, khuyết họ đối chiếu mình sửa. Thái độ học rất khiêm: ai có kỹ năng hay kiến giải đều nên học; khuyết và lỗi người cũng lấy làm răn, đừng tái phạm.

42. Nhanh nhạy ham học, không thẹn hỏi dưới. — “Luận ngữ · Công Dã Tràng”

Ý chính: Thông minh ham học, hỏi người địa vị thấp, kiến thức ít hơn không thẹn. Muốn chân tri không thiếu ham học, giỏi hỏi; để có hai điều đều cần khiêm.

43. Người ai không lỗi? Lỗi sửa được, không gì tốt hơn. — “Tả truyện · Tuyên công năm thứ hai”

Ý chính: Ai không sai? Sai sửa được không gì hơn. Cho thấy sai không đáng sợ, nhận và sửa thì tiến từ đó.

44. Thấy thiện thì theo, có lỗi thì sửa. — “Chu Dịch · Ích · Tượng”

Ý chính: Thấy người việc đẹp cố học, có lỗi sửa ngay. Đề phẩm chất thấy thiện học, biết lỗi sửa. Liên tục học ưu người, sửa lỗi mình mới tiến.

45. Lỗi không sửa mới gọi lỗi. — “Luận ngữ · Vệ Linh công”

Ý chính: Có sai không sửa mới thật sai. Lời Khổng Tử khuyên sửa: người khó tránh sai, không sửa thật sẽ thành lỗi lớn khó cứu.

46. Người báo (mình) có lỗi thì vui. — “Mạnh Tử · Công Tôn Sửu thượng”

Ý chính: Người chỉ lỗi mình lại vui, tức thường nói “nghe lỗi thì vui”. Tử Lộ là trò Khổng Tử, tính khá thô mà có phẩm chất ấy nên Mạnh Tử dùng câu khen.

47. Biết thẹn gần dũng. — “Lễ ký · Trung dung”

Ý chính: Có tâm hổ thẹn gần dũng cảm. Nối thẹn và dũng, nhấn nhận sai, biết thẹn cũng là dũng.

48. Đê nghìn trượng vỡ bởi hang kiến dế. — “Hàn Phi Tử · Dụ Lão”

Ý chính: Đê dài nghìn trượng vì kiến dế nhỏ sụp. Ví vấn đề nhỏ không chú ý sẽ thành họa lớn. Sau thường nói “đê nghìn dặm vỡ vì tổ kiến”, nhắc ngừa từ nhỏ.

49. Đừng vì ác nhỏ mà làm, đừng vì thiện nhỏ mà bỏ. — “Tam Quốc chí · Thục thư · Tiên chủ truyện”, chú Bùi Tùng Chi

Ý chính: Đừng tưởng việc xấu nhỏ thì làm, việc tốt nhỏ thì không. Đức xấu tốt đều hình thành từng chút nên đừng coi nhẹ chuyện nhỏ.

50. Làm thiện thì dự, làm ác thì tránh. — Nhan Chi Thôi “Nhan thị gia huấn · Hữu sự”

Ý chính: Việc tốt tích cực tham gia, việc xấu tránh không làm. Nhấn làm người không chỉ phân thị phi mà thực hiện bằng hành động, hết sức làm tốt, mãi không làm xấu.

51. Lấy đồng làm gương sửa áo mũ; lấy xưa làm gương biết hưng thay; lấy người làm gương rõ được mất. — “Cựu Đường thư · Ngụy Trưng liệt truyện”

Ý chính: Gương đồng chỉnh áo mũ, lịch sử hiểu quy luật triều đại hưng suy, người khác biết được mất mình. Trong đó lấy xưa, lấy người làm gương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho phát triển nước và trưởng thành cá nhân.

52. Năm lạnh rồi biết tùng bách tàn sau. — “Luận ngữ · Tử Hãn”

Ý chính: Đến trời lạnh mới thấy tùng bách tàn cuối. Sau thường mượn khen người mạnh không sợ khó, ý chí vững trong đời thật.

53. Trời sắp giao trọng trách cho người này, tất trước làm khổ tâm chí, nhọc gân xương, đói thân da, thiếu thốn thân, hành động nghịch loạn việc làm. — “Mạnh Tử · Cáo Tử hạ”

Ý chính: Trời sắp giao sứ mệnh lớn cho ai, trước khiến chí khổ, thân nhọc, chịu đói, da gầy, làm luôn không như ý. Đoạn chỉ sâu nghịch cảnh gian khó càng rèn ý chí, tăng tài, thành đại nghiệp sau.

54. Khắc rồi bỏ, gỗ mục không đứt; khắc không bỏ, vàng đá chạm được. — “Tuân Tử · Khuyến học”

Ý chính: Chạm khắc bỏ giữa thì gỗ mục cũng không đứt; khắc mãi thì kim loại đá cũng ra hoa văn. Mượn khắc chỉ làm việc phải bền lòng, nghị lực.

55. Đá phá được, không đoạt cứng; son mài được, không đoạt đỏ. — “Lã thị Xuân Thu · Thành liêm”

Ý chính: Đá đập vỡ được không đổi cứng vốn có; chu sa nghiền được không đổi đỏ mình. Ví người chí vững, phẩm cao dù gian khổ không đổi tin trong lòng.

56. Tinh thành đến, vàng đá mở. — “Hậu Hán thư · Quang Vũ thập vương liệt truyện”

Ý chính: Chỉ cần tâm chí thành, vàng đá cũng đứt. Sau thường dùng “tinh thành đến nơi, vàng đá mở”, ví ý chí vững, tâm chuyên thì không việc không thành.

57. Lo nhọc hưng nước, nhàn vui mất thân. — “Tân Ngũ Đại sử · Linh quan truyện tự”

Ý chính: Lo, nhọc quốc sự khiến nước thịnh; đuổi nhàn hưởng có thể tự diệt. Thông đạo lý “sinh trong lo, chết trong vui”, đều nhấn ý thức ưu hoạn, không tham hưởng.

58. Người xưa lập đại sự không chỉ tài vượt đời, cũng tất chí bền không nhổ. — Tô Thức “Triều Thố luận”

Ý chính: Người xưa thành nghiệp lớn không chỉ tài phi thường mà ý chí kiên định. Nhấn muốn nghiệp phải dám đối khó, bền chiến đấu, kiên trì không lay.

59. Cây vòng tay ôm sinh từ mầm nhỏ; đài chín tầng khởi đất đắp; đường nghìn dặm bắt dưới chân. — “Lão Tử”, chương sáu mươi tư

Ý chính: Cây hai tay ôm từ mầm nhỏ lớn, đài chín tầng từ từng giỏ đất, đường nghìn dặm từ bước đầu. Ví hình ảnh mọi thứ từ nhỏ đến lớn, làm gì cũng chân thực từ từng chút.

60. Kẻ sĩ dù học, hành là gốc. — “Mặc Tử · Tu thân”

Ý chính: Người đọc sách có học, nhưng tự thực hành mới gốc. Chỉ kiến thức sách gián tiếp, phải qua thực hành kiểm mới hoàn thiện; thực hành cũng là mục đích cuối học kiến thức.

61. Đường dài xa thẳm, ta sẽ trên dưới tìm cầu. — Khuất Nguyên “Ly tao”

Ý chính: Đường dài xa, tôi vẫn lên trời xuống đất tìm chân lý. Thơ bày quyết tâm Khuất Nguyên; sau thường dùng bày quyết khám phá, theo chân lý và sự nghiệp không ngừng.

62. Không lên núi cao không biết trời cao; không đến khe sâu không biết đất dày. — “Tuân Tử · Khuyến học”

Ý chính: Không lên đỉnh không rõ trời cao bao, không đến khe sâu không biết đất dày bao. Ý gốc ví không đọc sách thánh không biết học vấn rộng sâu. Sau thường nói không tự thực hành không thể nhận thức, cải tạo thế giới.

63. Không tích bước nhỏ không đến nghìn dặm; không tích dòng nhỏ không thành sông biển. — “Tuân Tử · Khuyến học”

Ý chính: Không từng bước tích thì không tới nghìn dặm, không từng sông nhỏ hội thì không đại sông biển. Vừa nhấn quý tích lũy, vừa khuyên làm gì cũng nghị lực không lay, theo đuổi bền.

64. Trăm nghe không bằng một thấy. — “Hán thư · Triệu Sung Quốc truyện”

Ý chính: Nghe người nói trăm lần không bằng tự thấy lần. Làm gì không chỉ nghe, còn tự xem mới nắm trong lòng.

65. Tài nhờ dùng ngày sinh, nghĩ nhờ dẫn không cạn. — Vương Phu Chi “Chu Dịch ngoại truyện”

Ý chính: Tài dùng nên tiến, tư tưởng khai thông nên không hết. Tài nghĩ chỉ liên tục dùng mới mạnh cao; không thực hành kích thì cạn.

66. Dân sinh ở cần, cần thì không thiếu. — “Tả truyện · Tuyên công năm thứ mười hai”

Ý chính: Sinh kế dân ở lao động chăm, chỉ cần lao động mới không thiếu của. Nêu lý mộc mạc: chỉ lao động cần cù tạo giàu.

67. Lấy có mức, dùng có tiết thì thường đủ. — “Tư trị thông giám”, quyển hai trăm ba mươi tư

Ý chính: Lấy có kế hoạch, tiêu có tiết chế thì giữ đủ. Nói ý tiết kiệm: của vật, nguồn lực hữu hạn, không hoang lạm. Chỉ tính kỹ, theo thu mà chi mới không lo sau.

68. Xem khắp nước nhà hiền trước, thành do cần kiệm, phá do xa hoa. — Lý Thương Ẩn “Vịnh sử”

Ý chính: Suốt lịch sử, lớn nước nhỏ nhà đều hưng vì cần kiệm, vong vì xa xỉ. Hai câu tổng bài học lịch sử về cần kiệm, xa xỉ gắn nước hưng vong, thành danh ngôn răn đời.

69. Từ kiệm sang xa dễ, từ xa về kiệm khó. — Tư Mã Quang “Huấn kiệm thị Khang”

Ý chính: Từ tiết kiệm thành xa xỉ dễ, ngược lại rất khó. Từ thường tình người, chỉ cần tự giác giữ giản, ngăn xa.

70. Một cháo một cơm nên nghĩ đến chẳng dễ; nửa tơ nửa sợi luôn nhớ vật lực gian nan. — Chu Bá Lư “Trị gia cách ngôn”

Ý chính: Dù bữa cháo cơm cũng nghĩ đến không dễ; dù nửa sợi tơ chỉ cũng nhớ nhọc lao động. Đây “cách ngôn trị gia” truyền thống nước ta, nhắc luôn tiết dùng, quý quả lao động.

Nhận thức và học tập · Châm ngôn và đọc sách Liên kết cố định
《Từ châm ngôn đến thực hành》 Châm ngôn, đọc sách và thực hành đảm nhiệm vai trò gì trong học tập?

Châm ngôn cho phương hướng, đọc sách cho tư liệu, thực hành chịu trách nhiệm kiểm nghiệm.

Nhận thức và học tập · Châm ngôn và đọc sách Liên kết cố định
《Hiểu một câu, cũng phải dùng tốt một câu》 Khi đọc một câu có lý, làm sao biết hôm nay có thể dùng nó ở đâu?

Khi đọc một câu, hãy hỏi sâu về điều kiện áp dụng và hành động có thể làm hôm nay.

Nhận thức và học tập · Châm ngôn và đọc sách Liên kết cố định
SEARCH